Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

Stress ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nam giới

Những người gặp hơn 2 biến cố gây stress trong vòng 1 năm trước thí nghiệm có mức tỉ lệ về khả năng vận động và tỉ lệ hình dạng bình thường của tinh trùng thấp hơn so với những người bình thường.

Nếu như những nghiên cứu trước đây từng cho thấy stress có thể gây bệnh tim, hen suyễn, béo phì và trầm cảm thì nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ thuộc ĐH Colombia cùng vài học viện y khoa khác lần này cho thấy thêm khả năng ảnh hưởng của stress đến chất lượng tinh dịch và tinh trùng

Trong khảo sát được công bố trên tạp chí Fertility and Sterility, nhóm nghiên cứu đã phân tích mẫu tinh dịch của 193 đàn ông từ 38 đến 49 tuổi và yêu cầu điền câu hỏi trắc nghiệm để đo lường mức độ bị stress gồm áp lực ở nơi làm việc, các sự cố gây stress trong cuộc sống và tình trạng bị stress nói chung.

Nhóm nghiên cứu nhận thấy những người gặp hơn 2 biến cố gây stress trong vòng 1 năm trước thí nghiệm có mức tỉ lệ về khả năng vận động và tỉ lệ hình dạng bình thường của tinh trùng thấp hơn so với những người bình thường. Dù áp lực công việc không ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch nhưng những người gặp nhiều căng thẳng trong công việc có mức độ testosterone trong tinh dịch thấp hơn so với người khác.

Nhóm nghiên cứu không xác định làm thế nào stress có thể ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch nhưng họ nêu khả năng stress kích hoạt sự phóng thích glucocorticoid - dạng hormone steroid ảnh hưởng đến sự chuyển hóa carbohydrate, mỡ và protein - làm giảm testosterone và giảm sản sinh tinh trùng. Hơn nữa, stress gây thêm mất cân bằng ôxy hóa - một áp lực sinh lý lên cơ thể gây ra do sự tổn hại từ các gốc tự do không trung hòa - vốn có liên quan đến chất lượng tinh dịch và khả năng sinh sản.


Giải pháp cho bạn:
Giảm strees, căng thẳng, mệt mỏi bằng cơ chế xoa dịu dây thần kinh, cung cấp năng lượng cho ngày dài làm việc, tạo sự tỉnh táo, tập trung.
Xem chi tiết tại: Giảm stress hiệu quả

Căn bệnh "kỳ lạ": Chỉ xuất hiện khi chiều muộn


Vào mùa hè, nhiều người mất tự tin không dám giao tiếp vì căn bệnh này.

Nguyễn Thu Hà trú tại Hoàng Văn Thụ, Hoàng Mai, Hà Nội nhăn nhó vì chứng hôi nách của mình. Hà kể ở nhà có hai chị em gái nhưng em gái của Hà không bị hôi nách. Riêng Hà bị hôi nách từ khi dậy thì. 


Sau này, Hà tự an ủi đó là căn bệnh di truyền vì bố Hà cũng bị. Nhiều năm sống chung với nó, Hà tự tạo cho mình thói quen vệ sinh kỹ vùng đặc biệt. Tuy nhiên việc vệ sinh không phải lúc nào cũng thuận lợi. 

Điều khốn khổ nhất với Hà là mỗi lần tiếp xúc mọi người Hà rất ngại và luôn phải dùng lăn nách trước khi giao tiếp. Biện pháp dùng lăn nách chỉ tạm thời. Nhiều khi Hà thấy không giảm mà mùi nặng thêm, gây cảm giác khó chịu.

Hà kể "Công việc của em buổi chiều thường đến các cửa hàng để tổng hợp làm báo cáo nên phải chạy ngoài đường. Đây là thời điểm mùi từ vùng cánh tỏa ra nhiều nhất. Có hôm, em không dám bước ngay vào cửa hàng, phải chạy vội vào đâu có nhà vệ sinh để rửa cho bớt mùi rồi mới làm việc tiếp.

Có lẽ vì chứng hôi nách, năm nay 25 tuổi Hà vẫn không dám yêu ai. Trong ngăn tủ của Hà có đủ các loại lăn nách, xịt hơi rồi xịt phấn nhưng Hà bảo "không ăn thua đâu chị ạ. Mọi thứ chỉ là tạm thời. Ngày nào ra đường em cũng mang theo lọ lăn nách nhưng đôi lúc vẫn quên. Một số loại lăn nách bôi vào còn có tác dụng ngược".

Còn Thu Hường, nhân viên quản lý khách sạn ở Lý Thường Kiệt, Hà Nội cũng đã thử tìm giải pháp là đốt tia laser. Hường kể mình bị hôi nách từ bé. Sau khi được bác sĩ tư vấn dùng laser để đốt vùng nhầy ở nách, cách làm triệt tiêu thủ phạm gây hôi, Hường thử ngay. Tuy nhiên, biện pháp này chỉ được hai năm thì bệnh lại tái phát. Hường nản "Giờ thì sống chung với lũ thôi, đốt laser tốn tiền mà không ăn thua".

Chị Bùi Vy Linh trú tại Định Công, Hoàng Mai lại vướng ông xã bị hôi nách. Chị Linh kể ông xã bị hôi nách từ lâu. Ngày trước chị sưu tầm nhiều bài thuốc trị hôi nách về cho chồng nhưng tất cả đều không ăn thua. Sau này, chị Linh mua thuốc dạng uống nhưng chỉ được một thời gian khi hết thuốc là mùi hôi xuất hiện.

Chị bảo "đàn ông họ không ngại chuyện hôi nách như chị em phụ nữ nhưng mình đứng cạnh người hôi nách còn không chịu được thì người khác đứng cạnh chồng mình cũng không thể chịu nổi". Chị Linh sợ bệnh lây nên thường giặt áo của chồng riêng với gia đình.

Ám ảnh sẹo xấu khi cắt hạch gây hôi nách

Nỗi lo lắng mỗi khi mùa hè đến làm sao che giấu được mùi hôi nách khiến bạn cảm thấy tự ti và không hề thoải mái khi tham gia bất cứ hoạt động nào. Nhiều trung tâm thẩm mỹ, bệnh viện nắm được điểm này họ quảng cáo đánh vào tâm lý của người dân. Vì thế nhiều người chi cả khoản tiền lớn đi cắt hạch gây hôi nách, kết quả không được như ý muốn.

Chị Nguyễn Thị Diệu trú ở Mỹ Đình, Hà Nội giơ nách của mình lên than thở. Sau một thời gian khốn khổ vì bệnh hôi nách, ngày tắm 2, 3 lần vẫn không hết mùi, chị Diệu nghe bạn bè khuyên đi cắt hạch gây hôi nách.

Sau khi cắt hạch gây hôi nách, chị Diệu không ngờ rằng mình sẽ không bao giờ mặc được áo sát nách vì vết mổ để lại chiếc sẹo lồi to. 

Trao đổi với chúng tôi, bác sĩ Nguyễn Thị Thu -  nguyên bác sĩ của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho biết hôi nách là một bệnh vốn được coi là nan y, gây nhiều phiền toái trong cuộc sống, cho cả bản thân người bị lẫn những người xung quanh.

Bệnh vốn thường gắn với tăng tiết mồ hôi vùng nách, đôi khi cả những mồ hôi nơi khác như tay, mặt, đầu và chân. Tuy nhiên, tăng tiết mồ hôi nách và bệnh hôi nách có những điểm khác nhau cơ bản. 

Tăng tiết mồ hôi được cho là do cường chức năng hệ thần kinh giao cảm, và việc diệt thần kinh giao cảm ở những vùng tương ứng đã được chứng minh có tác dụng làm giảm hoặc mất việc tăng tiết này. Còn bệnh hôi nách lại do cường chức năng tuyến mồ hôi tại chỗ (tức vùng hố nách).

Ngoài ra, bệnh hôi nách còn do tác động của vi khuẩn vùng nách. Vi khuẩn phân hủy sản phẩm tiết của apocrine thành amoniac và các acid béo chuỗi ngắn, những thứ gây ra mùi khó chịu.

Theo bác sĩ Thu điều trị bệnh hôi nách bao gồm chống nhiễm khuẩn, vệ sinh sạch da vùng nách và bôi các thuốc chống mùi hôi. Tuy nhiên để điều trị tiệt căn cần phẫu thuật cắt bỏ tuyến mồ hôi vùng hõm nách. 

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2014

Khi "vùng kín" mắc bệnh

Vùng kín có tính chất đặc thù, khi bị bệnh thì biểu hiện đầu tiên và dễ nhận thấy là sự ra khí hư bất thường. Khí hư được hình thành do tác dụng của nội tiết tố nữ estrogen, có tác dụng giữ ẩm cho âm đạo, là chất bôi trơn, tạo môi trường thuận lợi cho tinh trùng vào tử cung.

Khí hư bình thường có màu trắng trong hoặc trong suốt không màu, gần như không có mùi. Nhưng khi khí hư ra nhiều, có mùi hôi, có màu giống như mủ, thì rất có thể bạn đã bị mắc một trong những bệnh phụ khoa (viêm cổ tử cung, viêm âm đạo, viêm niêm mạc tử cung, viêm phần phụ).


Viêm âm đạo có 4 tác nhân chính gây viêm âm đạo:

Viêm âm đạo do Trichomonas vaginalis: khí hư loãng, màu vàng nhạt, có bọt. Soi tươi khí hư thấy Trichomonas di động (khí hư phải lấy vào những ngày trước khi hành kinh hoặc ngay sau khi hành kinh mới thấy Trichomonas), những ngày khác không thấy.

Viêm âm đạo do nấm Candida albican: khí hư tương đối ít và trông như những vảy nhỏ. Soi kính thấy có những sợi nấm.

Viêm âm đạo do vi khuẩn lậu, thường kèm theo viêm tử cung hay viêm âm hộ: khí hư rất nhiều, đặc trắng hoặc xanh như mủ. Xét nghiệm thấy vi khuẩn lậu hình hạt cà phê.

Viêm âm đạo do tạp khuẩn: có nhiều khí hư như mủ, có thể lẫn ít máu, thường gặp ở phụ nữ đã mãn kinh hoặc cắt bỏ hai buồng trứng làm lượng folliculin giảm xuống nên bảo vệ âm đạo kém.

Điều trị: tùy tác nhân gây bệnh mà dùng thuốc kháng nấm, kháng sinh đặt tại chỗ hay toàn thân.

Viêm cổ tử cung:

Viêm cổ tử cung cấp tính: khí hư nhiều đặc, dính như hồ, có màu đục, có mủ nhiều khi lẫn máu; cổ tử cung sung huyết phù nề. Xét nghiệm khí hư thấy có vi khuẩn lậu. Ngoài nguyên nhân do vi khuẩn lậu, viêm cổ tử cung cấp tính còn có thể do nhiễm khuẩn sau sinh, sau sẩy thai, rách cổ tử cung làm niêm mạc cổ trong bị lộn vào âm đạo và bị nhiễm khuẩn.

Viêm cổ tử cung mạn tính: khí hư có thể nhiều hoặc ít, màu xanh hay màu vàng thường trước và sau khi hành kinh khí hư ra nhiều hơn. Đặc biệt, khí hư không bao giờ lẫn máu. Nếu có máu phải đặt vấn đề nghi ung thư hoặc lao cổ tử cung.

Viêm thân tử cung (viêm niêm mạc tử cung)

Viêm niêm mạc tử cung cấp tính do vi khuẩn lậu: khí hư như mủ, xét nghiệm khí hư có song cầu lậu. Ít khi có viêm tử cung đơn thuần do vi khuẩn lậu nó thường đi kèm với viêm cổ tử cung và phần phụ cấp tính.

Viêm niêm mạc tử cung cấp tính sau sẩy, đẻ: sản dịch hôi, lẫn máu đỏ, có khi lẫn mủ hôi, nhất là khi có vi khuẩn hiếm khí, mủ không có mùi hôi thối nếu là do vi khuẩn khác.

Viêm niêm mạc tử cung mạn tính đơn thuần rất hiếm gặp: khí hư nhiều có khi lẫn máu.

Viêm phần phụ (viêm vòi trứng)

Viêm phần phụ cấp tính: đau vùng hạ vị và ra nhiều khí hư.

Viêm phần phụ mạn tính: đau vùng hạ vị hoặc hai bên hố chậu trong, khí hư chảy qua ống dẫn trứng qua buồng tử cung ra ngoài trong mỗi cơn co bóp và đau vòi trứng.

Ngoài ra, trước và trong những ngày gần hết hành kinh, khí hư sẽ ra nhiều hơn, lúc này chị em nữ nên chú ý vệ sinh vùng kín như rửa bằng dung dịch vệ sinh phụ nữ, dùng băng vệ sinh hằng ngày. Nên chọn những chiếc quần lót thấm hút mồ hôi, có chứa nhiều cotton, thay quần lót ít nhất 1 lần/ngày. Bên cạnh đó, cần có chế độ dinh dưỡng đúng, hợp lý và chế độ nghỉ ngơi, rèn luyện thân thể.

Làm gì để phòng bệnh?

Viêm nhiễm vùng kín là bệnh có nguy cơ tái phát cao do đặc điểm của môi trường âm đạo ẩm ướt, các thói quen mặc quần áo bó sát, trong thời gian dùng thuốc kháng sinh, vệ sinh kém cũng làm cho bệnh dễ tái phát.

Mới đây, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng, càng bị stress nhiều thì phụ nữ càng có nguy cơ viêm âm đạo. Có thể do stress đã làm suy yếu hệ miễn dịch. Sau khi bị viêm nhiễm, nhiều chị em có thói quen thụt rửa âm đạo bằng dung dịch sát khuẩn, cách làm này sẽ dẫn đến có tỷ lệ mắc bệnh trở lại cao gấp 5 lần người thường.

Việc thụt rửa âm đạo thường xuyên bằng dung dịch này sẽ phá hủy phổ vi khuẩn bình thường của âm đạo. Lúc đó, độ pH của âm đạo bị kiềm hóa, tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh phát triển. Khi dung dịch sát khuẩn phá vỡ cân bằng trong môi trường, viêm nhiễm lại tiếp tục xảy ra, không những gây khó chịu mà còn ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ.

Do đó, tốt nhất bình thường chị em chỉ nên vệ sinh bằng nước sạch rồi lau khô sau khi đi vệ sinh và giao hợp. Khi có những dấu hiệu bệnh ở vùng kín như nói ở trên, chị em cần đi khám để được tư vấn điều trị đúng.

Những căn bệnh bạn có thể mắc phải khi ở tuổi 30



Khi bước vào ngưỡng tuổi 30, bạn cần chú ý tới việc chăm sóc sức khỏe không chỉ cho bản thân mà còn cho nửa kia của mình nhiều hơn.

Bởi vì cả hai đều phải đối mặt với nguy cơ mắc các bệnh nghiêm trọng nếu không duy trì một lối sống lành mạnh và tích cực. Dưới đây là những căn bệnh bạn có thể mắc phải khi ở độ tuổi 30.


1. Ung thư cổ tử cung
Bạn có biết rằng đây là một trong những bệnh có nguy cơ mắc cao nhất ở phụ nữ độ tuổi 30 – 40? Vì vậy bạn cần kiểm tra sức khỏe định kì để sớm phát hiện các dấu hiệu bất thường và điều trị kịp thời.

2. Tiểu đường týp 2
Gần 20% nam giới và phụ nữ trên 30 tuổi mắc bệnh tiểu đường týp 2. Tiểu đường là một bệnh nghiêm trọng gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho bạn. Phương pháp tốt nhất để ngăn ngừa bệnh tiểu đường týp 2 là duy trì cân nặng hợp lí, ăn uống khoa học và hoạt động thể chất ít nhất 30 phút mỗi ngày.

3. Ung thư tinh hoàn
Ung thư tinh hoàn chiếm tới 15% số các bệnh ung thư ở nam giới trong độ tuổi 30 – 40. Vì vậy bạn hãy nhắc nhở nửa kia của mình khám sức khỏe định kì hàng năm để phát hiện và ngăn chặn nguy cơ mắc căn bệnh này.

4. U sắc tố da
Nam giới và phụ nữ ở độ tuổi 30-39 vẫn có nguy cơ cao mắc u sắc tố da. Ung thư da là một vấn đề nghiêm trọng. Để phát hiện u sắc tố da, bạn cần chú ý tới sự xuất hiện của nốt ruồi và các dấu hiệu khác trên cơ thể. Nếu phát hiện có sự thay đổi, bạn cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt. Khám da liễu hàng năm cũng là một cách để bạn phát hiện bệnh sớm và phòng chống bệnh hiệu quả.

5. Ung thư đại tràng
Nam giới ở độ tuổi 30 trở lên cũng phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh ung thư đại tràng. Tuy nhiên, bệnh này có thể chữa trị được nếu phát hiện sớm trước khi các triệu chứng phát triển. Vì vậy, bạn hãy khuyến khích anh ấy đi khám bệnh để sàng lọc ung thư đại tràng và cách giúp giảm nguy cơ mắc bệnh.

6. Ung thư vú
Phụ nữ trên 30 tuổi có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú rất cao. Nguy cơ mắc căn bệnh này phụ thuộc vào tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú ở tuổi dưới 40 tuổi. Cũng giống các bệnh ung thư khác, ung thư vú có thể chữa trị được nếu phát hiện sớm, vì vậy, hãy tự khám vú hàng tháng và đi khám ngay khi phát hiện có biểu hiện bất thường.

7. Bệnh tim
Bệnh tim là căn bệnh gây chết người số 1 ở nam giới trên 35 tuổi và ở phụ nữ nói chung. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe tim mạch ở bất cứ độ tuổi nào. Bạn cần kiểm tra huyết áp thường xuyên và nồng độ cholesterol 5 năm/lần. Đồng thời, cần duy trì lối sống lành mạnh để cải thiện sức khỏe trái tim của bạn.

8. Béo phì
Bạn không nên quá lo ngại vì béo phì chỉ là một trong nhiều nguy cơ sức khỏe trầm trọng ở lứa tuổi 30. Để giảm nguy cơ mắc bệnh béo phì ở độ tuổi trên 30, bạn cần tạo cho mình thói quen ăn uống khoa học và một lối sống năng động.

Thứ Năm, 10 tháng 7, 2014

Bí quyết vàng dưỡng da cho phụ nữ tuổi 30

Từ 25 tuổi trở lên, làn da phụ nữ bắt đầu có dấu hiệu lão hóa. Bởi thế, nếu chăm sóc da đúng cách bạn sẽ trì hoãn được quá trình này.

Hãy cùng nghe lời khuyên hữu ích về chuyện dưỡng da cho phụ nữ tuổi 30:

1. Cân bằng độ PH

Ở độ tuổi 30, bạn nên sử dụng sản phẩm tẩy rửa như: sữa rửa mặt, tẩy trang có độ ph phù hợp với làn da. Điều này rất quan trọng khiến da bạn ở trạng thái cân bằng nhất, không bị khô.



2. Sử dụng Retinoids

Retinoids là thành phần quan trọng trợ giúp làn da chiến đấu với nếp nhăn, xỉn màu, Nó sẽ duy trì kết cấu, độ đàn hồi cho làn da. Bạn có thể tìm được retinoids trong nhiều sản phẩm dưỡng da buổi đêm.

3. Thường xuyên tẩy tế bào chết

Tẩy tế bào chết rất quan trọng để có làn da mềm mại, mịn màng, đặc biệt phụ nữ tuổi 30 càng phải lưu tâm. Tẩy tế bào chết sẽ giúp làn da bạn có cơ hội tái tạo, sản sinh tế bào mới làm bạn luôn trẻ trung.

4. Bổ sung vitamin C

Vitamin C là một chất chống oxy hóa đóng vai trò rất quan trọng cho sức khỏe làn da của bạn. Nó sẽ làm tăng việc sản xuất collagen, chống lại dấu hiệu lão hóa. Bạn có thể dùng thuốc bổ sung hoặc ăn uống thực phẩm giàu vitamin C như: cam, quýt, ớt chuông, kiwi.

5. Dùng serum, kem chống nắng

Việc bạn sử dụng kem chống nắng hàng ngày là việc quan trọng trong chăm sóc da. Hoặc bạn có thể sử dụng huyết thanh ban ngày hoặc kem ngày có chứa SPF. Ngoài ra, bạn đừng quên dùng serum cung cấp độ dưỡng để chống nhăn, ngăn chặn đồi mồi.

6. Uống nhiều nước

Không chỉ ở tuổ 30, mà ở các độ tuổi uống nước là một việc rất quan trọng. Phụ nữ tuổi 30 cần phải uống ít nhất 2l/ngày để duy trì độ ẩm cho làn da.

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

Chất revesratrol giúp tăng cường trí nhớ



TS. Veronica Witte (Đại học Berlin) nhà thần kinh học người Đức, cùng với các đồng nghiệp đã tiến hành thí nghiệm trên 46 người thừa cân. Một nửa trong số họ đã được bổ sung 200mg resveratrol hằng ngày, trong khi đó một nửa số còn lại dùng giả dược. Kết quả chụp não ở những người dùng revesratrol cho thấy có sự giao tiếp nhiều hơn trong vùng hippocampus - vùng não liên quan đến trí nhớ. Và các xét nghiệm mẫu máu của họ cho thấy lượng đường trong máu có xu hướng giảm.
Witte cho biết: “Những phát hiện lâm sàng của chúng tôi cho thấy sự tiêu thụ resveratrol thường xuyên ở người cao tuổi có tác dụng trong việc bảo vệ chức năng nhận thức”.
Trong nghiên cứu các nhà khoa học còn cho biết, chất revesratrol không chỉ có ở trong rượu vang đỏ, socola đen, nho đỏ, đậu phộng, việt quất, hà thủ ô Nhật Bản...    

Và hiện nay chất revesratrol (chiết xuất từ vỏ nho đỏ) còn có nhiều trong sản phẩm MAQUI với công nghệ nano, dễ dàng thẩm thấu vào tế bào, giúp cơ thể hấp thụ chất dinh dưỡng tốt nhất:
- Chống lão hóa, giải độc cơ thể
- Cải thiện tình trạng mất ngủ, kém ăn
- Cải thiện hệ tiêu hóa...
Liên hệ Hotline

Tỷ lệ mỡ và mức mỡ nội tạng




Phân tích mỡ cơ thể
Mỡ cơ thể được phân loại như mỡ dưới da và mỡ nội tạng, vv... tùy thuộc vào vị trí của nó trong cơ thể. Nói cụ thể, mức mỡ nội tạng được biết đến gần mối liên quan tới khả năng dễ mắc các bệnh thông thường.
Tỷ lệ mỡ cơ thể là gì? Tỷ lệ mỡ cơ thể là lượng mỡ cơ thể so với trọng lượng của cơ thể và được chỉ ra dưới dạng %.
Có thể sử dụng phương pháp BI (trở kháng điện sinh học) để đo tỷ lệ mỡ cơ thể của bạn bằng cách sử dụng công thức đơn giản sau: Tỷ lệ mỡ cơ thể (%) = {Lượng mỡ cơ thể (kg) / Trọnglượng cơ thể (kg)} x 100.
Sự phân loại tỷ lệ % mỡ cơ thể khác nhau giữa nam và nữ.
Khi nghĩ về mỡ cơ thể, hầu hết mọi người đều nghĩ về nó như một hình ảnh tiêu cực. Tuy nhiên, nó lại có vai trò quan trọng trong việc dự trữ năng lượng và bảo vệ các cơ quan nội tạng, v.v.
Nếu như mỡ cơ thể quá nhiều là không tốt cho sức khoẻ thì quá ít cũng gây hại cho sức khỏe như thế. Sự phân bố mỡ cơ thể ở nam và nữ là khác nhau, bởi vậy cơ sở để phân loại tỷ lệ % mỡ cơ thể đối với nam và nữ cũng khác nhau.
Luận giải kết quả đo tỷ lệ mỡ cơ thể
Giới tính- (Thấp)0 (Bình thường)+ (Cao)++(Rất cao)
Nữ5.0-19.9%20.0-29.9%30.0-34.9%35.0-50.0%
Nam5.0-9.9%10.0-19.9%20.0-24.9%25.0-50.0%
Chỉ số nêu trên là các giá trị đánh giá mức độ béo phì do Mr.Lohman (1986) và Mr. Nagamine (1972) đưa ra.
Luận giải kết quả mức mỡ nội tạng
Mức mỡ nội tạngPhân loại
1-90 (Bình thường)
10-14+ cao
15-30++ (Rất cao)

Mỡ nội tạng là gì?
Mỡ nội tạng = mỡ quanh các bộ phận bên trong cơ thể
Mỡ nội tạng quá cao được coi là nguyên nhân trực tiếp làm tăng lượng mỡ trong máu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh thông thường như bệnh mỡ máu và tiểu đường - làm suy yếu khả năng của insulin trong việc truyền năng lượng từ mạch máu và sử dụng nó trongcác tế bào. Để phòng bệnh cũng như cải thiện tình trạng mắc các bệnh đó, điều quan trọng là cần phải cố gắng giảm mức mỡ nội tạng xuống mức có thể chấp nhận được. Những người có mức mỡ nội tạng cao thường có xu hướng bụng to. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng là như thế.
Mỡ dưới da là gì ?
 Mỡ dưới da = lớp mỡ tích dưới da
Mỡ dưới da không chỉ tích lại ở khu vực quanh bụng (mỡ bụng) mà còn có ở quanh cánh tay trên, hông và đùi, có thể gây rối loạn tỷ lệ tương quan của cơ thể. Dù không liên quan trực tiếp đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh nhưng nó làmt ăng áp lực lên tim cũng như các biến chứng khác.

Cách giúp bạn giảm bớt lượng mỡ thừa cơ thể: